Thứ Ba, ngày 07 tháng 12 năm 2010

Hãy phân tích đoạn thơ sau đây:

“Tây tiến đòan binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá giữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành”.
(Tây Tiến_Quang Dũng).

                     “Tây Tiến” là bài thơ hay nhất của Quang Dũng và cũng là bài thơ tuyệt bút viết về “anh cụ Hồ” trong kháng chiến chống Pháp. Quang dũng vừa là nhà thơ nhưng cũng là chiến sĩ trên mặt trận. Ông viết về đồng đội, về đoàn binh Tây Tiến thân yêu của mình với tất cả lòng yêu mến tự hào mãnh liệt. Thơ của Quang Dũng nóng bỏng hào khí chiến trường của anh Vệ quốc quân những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.
Sau một thời gian xa đơn vị và đồng đội thân yêu, ông viết bài thơ Tây Tiến này vào năm 1948, tại Phù Lưu Chanh, một địa điểm bên bờ dòng sông Đáy hiền hòa. Cảm xúc chủ đạo của bài thơ là nỗi nhớ và niềm tự hào của đoàn binh Tây Tiến, đối với con sông Mã và núi rừng miền Tây xa xôi. Đó là nỗi nhớ chơi với bao kỉ niệm đẹp và cảm động một thời trận mạc đầy gian khổ, hy sinh. Đây là đọan thơ thứ ba trong bài thơ Tây Tiến, đã khắc họa khí phách anh hùng và tâm hồn lãng mạn của người chiến sĩ trong máu lửa.
“Tây tiến đoàn binh không mọc tóc
…………………………………..
Sông Mã gầm lên khúc độc hành”.
Trên những nẻo đường hành quân chiến đấu, đoàn binh Tây Tiến đã muôn trùng khó khăn phải đối diện với những nguy hiểm thử thách của thiên nhiên Tây Bắc. Họ đã đấu tranh để tiến về phía Tây trong cuộc kháng chiến chống Pháp cùng với nhân dân Lào. Trong cuộc hành quân, những bệnh tật luôn đi bên họ, luôn rình rập những nguy hiểm “Đêm đêm mường hịch cọp trêu người”. Và, họ, những con người trong máu lửa xuất hiện trong bút pháp hiện thực của nhà thơ, vừa trần trụi nhưng thật lãng mạn:
“Tây tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá giữ oai hùm”.
Cái hình dáng ấy không mấy gì đẹp đẽ với “Quân xanh màu lá” và “đầu không mọc tóc”, nó tương phản với “dữ oai hùm” một nét chạm khắc tài tình làm nổi bật chí khí hiên ngang, tinh thần quả cảm xung trận của các đoàn binh Tây Tiến từng làm cho giặc phải khiếp sợ. Chúng ta biết, núi rừng Tây Bắc được nhà thơ miêu tả không những trắc trở mà còn đầy những nguy hiểm. Người lính xuất hiện với hình dạng “không mọc tóc”, đây là thảm trạng của rừng thiêng nhưng “không mọc tóc” cũng có thể bởi vì không muốn mọc tóc. Chi tiết thể hiện sự ngang tàng của người lính. Bút pháp tả thực không chỉ dừng lại ở đó, mà “quân xanh màu lá” nó vừa bậc lên sự xanh xao của màu da thịt, với những cơn sốt rét rừng hoành hành. Song, lại còn có một cách hiểu là về nguồn gốc của “cái màu xanh ấy”, đó là màu xanh mà bộ đội ta ngụy trang. Nói cho cùng, Quang Dũng đã trung thành với bút pháp hiện thực khi miêu tả về những khó khăn bệnh tật mà người lính gặp phải. Đọc hai câu thơ, tôi thấy được cái hay của Quang Dũng, ông ta miêu tả cái hiện thực để làm rõ cái nền của thiên nhiên, bên cạnh đó, ông đang trang điểm cho người lính thêm một họa tiết rất hay. Đó là “giữ oai hùm”. Cụm động từ xuất hiện trong sự tương phản của những cái gay gắt và khó khăn nhất. Hình ảnh này mang tính chất ẩn dụ và nói lên tính kế thừa, sáng tạo của nhà thơ. Các chiến binh “Sát Thát” đời Trần “Tam quân tỳ hổ khí thôn ngưu” (Phạm Ngũ Lão); “Tỳ hổ ba quân, giáo gươm sáng chói” (Trương Hán Siêu). Nghĩa quân Lam Sơn xung trận trong khí thế “bình Ngô”: “Sĩ tốt kén tay tỳ hổ - bề tôi bọn kẻ vuốt nanh”. Với niềm tự hào ấy, Quang Dũng đã cho ra đời câu thơ “Quân xanh màu lá giữ oai hùm” như một niềm tự hào của nhà thơ. Quang dũng đã lấy cái “thô”, cái “mộc” để tô đậm cái đẹp, cái dũng khí ấn chứa trong tâm hồn người chiến sĩ.
Với những gian ác hiểm trở, khó khăn…nhưng ở họ, vẫn có những ước mơ những giấc mộng rất đẹp và đầy lãng mạn:
“Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”
Mộng” và “” gửi về hai phía chân trời: biên giới và Hà Nội, nơi có đầy bóng giặc. “Mắt trừng”, hình ảnh thể hiện nét dữ dội, oai phong lẫm liệt, tinh thần cảnh giác, tỉnh táo của người lính trong khói lửa ác liệt. “Mộng qua biên giới”- mộng tiêu diệt thù, bảo vệ biên cương, lập nên chiến công nêu cao anh hùng của đoàn binh Tây Tiến. Lại có thêm một giấc mơ về phố cũ yêu thương. Rất phong tình và tài hoa.
Xuất thân của các chiến sĩ Tây Tiến là những học sinh, sinh viên đã xếp bút nghiên đi theo tiếng gọi của non sông. Họ là những thanh nhiên giàu lòng yêu nước và rất hào hoa:
 “Từ thưở mang gươm đi giữ nước
Nghìn năm muôn thương nhớ đất Thăng Long
(Huỳnh Văn Nghệ)
Sống giữa núi rừng gian khổ, ác liệt, cái chất bủa vây, lửa đạn mịt mù, nhưng các chiến sĩ vẫn mơ về Hà Nội. Làm sao họ quên được những hàng me, có “Gió mùa thu hương cốm mới”, “Những phố dài xao xác hơi may?”(Nguyễn Đình Thi)…và, làm sao có thể xóa được hình dáng của dáng kiều thơm với “Cuộc chia tay chói ngời sắc đỏ” (Nguyễn Mỹ). Dáng kiều thơm, hình ảnh thề hiện sự khám phá của nhà thơ. Bút pháp lãng mạn tạo nên tính thẩm mỹ trong câu thơ. Chẳng hạn ở “Đất nước” của Nguyễn Đình Thi:
Những đêm dài hành quâ nung nấu
Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu”.
Cho đến Hữu Loan, “Màu tím hoa sim” cũng làm nên tinh thần của vẻ đẹp lãng mạn:
…”Từ chiến khu xa
Nhớ về ái ngại
Lấy chồng thời chiến tranh
Mấy người đi trở lại
Lỡ khi mình không về
Thì thương người vợ nhỏ, bé bỏng chiều quê…”
Dường chăng, trong văn học cách mạng, hình ảnh người chiến sĩ trong cái vẫy vùng khói lửa thường xuất hiện hình ảnh của người con gái. Đã có Tây Tiến của Quang Dũng và “Cuộc chia tay màu đỏ” của Nguyễn Mỹ. Những lời thơ làm nên hình ảnh đẹp đẽ và mang đầy tính lãng mạn của Tây Tiến, của những người lính cụ Hồ.
Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành”.
Trong gian khổ hi sinh những năm dài chiến trận, bao đồng đội của nhà thơ đã ngã xuống trên chiến trường miền Tây. Họ nằm lại chân đèo, góc núi. Nấm mồ của người chiến sĩ “rải rác biên cương”. Câu thơ gợi cho lòng ta nhiểu thương cảm biết bao tự hào: “Rải rác biên cương mồ viễn xứ”. Nếu tách hai câu trên ra khỏi đoạn thơ thì nó tựa như bức tranh xám lạnh, ảm đạm và hắt hiu. Nhưng nằm trong văn cảnh, đoạn văn câu thơ tiếp theo: ”Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh” thì nó đã nâng cao chí khí và tầm vóc người lính. Các anh ra trận vì một lý tưởng rất đẹp. “đời xanh” là đời trai trẻ, là tuổi thanh xuân của “Những chàng trai chưa trắng nợ anh hùng…”, những học sinh, sinh viên Hà Nội. Họ lên đường đầu quân vì nghĩa lớn của chí làm trai. Ho “quyết tử cho tổ quốc quyết sinh”. Câu thơ “chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh” vang lên như một lời thề thiêng liêng, cao cả. Các anh quyết đem xương máu để bảo vệ tổ độc lập, tự do cho tổ quốc. anh bộ đội cũng như nhân dân ta đã đứng lên kháng chiến với quyết tâm sắt đá: “Chúng ta thà hi sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”(Tuyên ngôn độc lập, Hồ Chí Minh). Quang Dũng đã ghi lại một cách chân thực, cảm động cảnh tượng bi tráng trên chiến trường miền Tây thưở ấy:
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành
Các tráng sĩ xưa giữa chốn sa trường lấy da ngựa bọc thây làm niềm kiêu hãnh. Các chiến sĩ Tây Tiến với các manh chiếu đơn sơ, với tấm áo bào bình dị ấy, thế là: “anh về đất”. Một cái chết nhẹ nhàng, thanh thản. Anh ra trận giết giặc vì quê hương. Anh ngã xuống “về đất” để ca ngợi sự hi sinh cao cả mà bình dị, thầm lặng thanh thản, nhẹ nhàng, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng của những anh hùng vô danh. Người chiến binh Tây Tiến đã sống và chiến đấu cho quê hương, đã chết vì đất nước quê hương. “Anh về đất” bằng tất cả tấm lòng chung thủy của người chiến sĩ. Tiếng thác sông Mã “gầm lên” giữa núi rừng miền tây như tiếng kèn trong bài “Chiêu hồn liệt sĩ” tống tiễn linh hồn các anh về nơi an giấc ngàn thu. Câu thơ “Sông Mã gầm lên khúc độc hành” là một câu thơ hay vì gợi tả không khí thiêng liêng, trang trọng, đồng thời tạo nên âm thanh rất đặc sắc, bên cạnh những từ ngữ bình dị thời lính như: gục, không mọc tóc, dữ, trừng, về đất, chiếu, gầm, lên… lại có một số từ Hán Việt như: mộng, mơ, biên giới, dáng kiều thơm, biên cương, viễn xứ, áo bào, khúc độc hành, - nhờ đó mà cái bình làm nổi bật cái cao cả thiêng liêng, cái bình thường tô đậm cái anh hùng, vĩ đại. Chất bi tráng về màu sắc lãng mạn của vần thơ đã tỏa rộng trong không gian và chiều dài lịch sử, vĩnh hằng như một tượng đài chiến thắng!
Đoạn thơ trên là đoạn thơ viết về chân dung người lính trong bài thơ “Tây Tiến” là đoạn thơ hay nhất. Khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn được nhà thơ kết hợp vận dụng sáng tạo trong miêu tả và cảm xúc, tạo nên những câu thơ “có hồn”. Người lính đã sống anh dũng, chất vẻ vang. Hình tượng người chiến sĩ Tây Tiến mãi mãi là một tượng đài nghệ thuật bi tráng về anh bộ đội cụ Hồ đã in sâu trong tâm hồn dân tộc. “Ai lên tây bắc mùa xuân ấy”… đồng đội nhà thơ ai còn, ai mất? Nửa thế kỉ đã trôi qua, hình ảnh các anh hùng tây tiến vẫn chói ngời sông núi:
“Tây tiến đòan binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá giữ oai hùm”