Thứ Ba, 7 tháng 12, 2010

Hãy phân tích đoạn thơ trên để làm rõ sự gợi cảm phong phú bất ngờ của hình tượng “sóng” trong sự liệt kê, đối sánh của nhân vật trữ tình “em”.

…”Ôi con sóng ngày xưa
Và ngày sau vẫn thế
Nỗi khát vọng tình yêu
Bồi hồi trong ngực trẻ
Trước muôn trùng sóng bể
Em nghĩ về anh, em
Em nghĩ về biển lớn
Từ nơi nào sóng lên?
Sóng bắt đầu từ gió
Gió bắt đầu từ đâu?
Em cũng không biết nữa
Khi nào ta yêu nhau.
Con sóng dưới lòng sâu
Con sóng trên mặt nước
Ôi con sóng nhớ bờ
Ngày đêm không ngủ được.
Lòng em nhớ đến anh
Cả trong mơ còn thức”…
(Sóng, Xuân Quỳnh)
               Nhắc tới Xuân Quỳnh, người ta nhớ ngay đến một tâm hồn kín đáo và ý vị. “Sóng” là tác phẩm chuyển tải tất cả nét đẹp lãng mạn trong trái tim người phụ nữ mang tên thi sĩ Xuân Quỳnh. Là nhà thơ trung thành với thể thơ ngũ ngôn, Xuân Quỳnh đi vào làng thơ hiện đại Việt Nam với khuôn mặt đẹp đẽ và mang đầy đặc trưng với cung điệu tình yêu. Đọc tác phẩm, chúng ta nhận thấy được vẻ đẹp của người thiếu nữ muốn được yêu, được sống trong tình yêu hạnh phúc thủy chung.
Bốn khổ thơ dưới đây trích trong phần đầu bài thơ. Hình tượng sóng trong sự liên hệ đối sánh với nhân vật trữ tình em đã đem đến cho tâm hồn ta bao gợi cảm phong phú bất ngờ:
“Ôi con sóng ngày xưa
…..
Cả trong mơ còn thức”
Sóng là biểu tượng muôn đời của đại dương bao la. Còn vũ trụ, đất trời thì còn có đại dương; đại dương còn thì “muôn trùng sóng bể”. Sóng là sức sống vĩnh hằng, kì diệu của biển, trường tồn trong dòng chảy thời gian:
“Ôi con sóng ngày xưa
Và ngày sau vẫn thế”
Thán từ “ôi” cất lên đầy xúc động ngây ngất của một nỗi niềm. Sóng của biển cũng như tình yêu là chuyện muôn đời của lứa đôi, là “khát vọng” của trai gái xưa nay. Sóng reo, sóng vỗ trên biển cả mênh mông cũng như “con sóng” tình yêu biến hóa vô cùng, lúc thì “dữ dội và dịu êm”, lúc thì “ồn ào và lặng lẽ”, làm cho trái tim tuổi trẻ rung động, xao xuyến, “bồi hồi”:
“Nỗi khát vọng tình yêu
Bồi hồi trên ngực trẻ”
Hình tượng của sóng trong những dòng thơ ngọt ngào tha thiết đầy gợi cảm mang tính nhân văn. “Trước muôn trùng sóng bể” của đại dương mênh mông, lớp lớp liên hồi, vô tận, thiếu nữ “bồi hồi” nghĩ về qui luật của sự sống, về sự trường tồn của đại dương, về nguyên nhân kì diệu nào mà có “sóng lên”. Rồi thiếu nữ bâng khuâng nghĩ về mối tình duyên của mình, về tình yêu của em và anh. Điệp ngữ “em nghĩ về…”, kết hợp với câu hỏi tu từ: “Từ nơi nào sóng lên?” đã làm cho giọng thơ nồng nàn, say đắm, cảm xúc bâng khuâng triền miên dào dạt dâng lên. Hình tượng sóng và sự liên tưởng phong phú được diễn tả một cách thi vị:
“Trước muôn trùng sóng bể
Em nghĩ về anh, em
Em nghĩ về biển lớn
Từ nơi nào sóng lên?”
Hỏi sóng rồi hỏi gió: ”Gió bắt đầu từ đâu?”. Rồi thiếu nữ lại tự hỏi trái tim mình, tự hỏi lòng mình: “Khi nào ta yêu nhau”. Đó là tâm trạng của em, của bất cứ chàng trai cô gái nào trong tình yêu. Và phải có mối tình đầu mới có câu hỏi ấy. Tình yêu đã đến với em tự bao giờ, nhưng khoảnh khắc thắm lại của hai tâm hồn anh và em, đâu phải dễ trả lời. Ông chúa thơ tình Xuân Diệu đã viết:
“Làm sao định nghĩa được tình yêu
Có nghĩa chi đâu một buổi chiều
Nó biến hồn ta bằng nắng hạ
Bằng mây nhè nhẹ gió hiu hiu”
Tuy không trả lời được câu hỏi “Khi nào ta yêu nhau?” nhưng cái khoảnh khắc thần tiên của mối tình đầu mãi mãi được ghi sâu trong lòng người:
“Cái thưở ban đầu lưu luyến ấy
Nghìn năm chưa dễ đã ai quên?”
(Thế Lữ)
Sức gợi cảm của hình tượng “sóng” thật phong phú và bất ngờ. Sóng tồn tại trong tạng thái “động”, trong mọi hoạt động không gian “dưới lòng sâu” hay “trên măt nước”, tầng tầng lớp lớp “muôn trùng sóng bể”. Có sóng ngầm và nhấp nhô sóng biếc. Sóng được nhân hóa, được thao thức suốt ngày đêm trong mọi thời gian: “Sóng nhớ bờ”, trong mọi trạng thái: “Sóng không ngủ được”. Sóng được cảm nhận bằng thính giác, bằng thị giác, bằng tri giác và bằng cả tâm hồn. Hình tượng “sóng” càng tở nên thơ mộng gợi cảm:
“Con sóng dưới lòng sâu
Con sóng trên mặt nước
Ôi con sóng nhớ bờ
Ngày đêm không ngủ được”.
Cấu trúc song hành, đối xứng: “dưới lòng sâu// trên mặt nước”, “ngày//đêm”, “nhớ bờ// không ngủ được” và điệp ngữ “con sóng” đã làm cho ngôn ngữ thơ cân xứng hài hòa, âm điệu, nhạc điệu thơ nhịp nhàng uyển chuyển, say đắm và ngọt ngào. Nhạc của thơ, vị ngọt tình yêu như được hòa quyện trong không gian, trong thời gian và cả trong lòng người.
Xuân Quỳnh có lúc mượn “thuyền” và “biển” làm ẩn dụ để nói lên nỗi lòng của lứa đôi:
“Những ngày không gặp nhau
Sóng bạc đầu thương nhớ
Những ngày không gặp nhau
Lòng thuyền đau rạn vỡ”…
(Thuyền và Biển)
Từ hiện tượng sóng nhớ bờ, nữ sĩ liên tưởng đến nỗi nhớ “em nhớ đến anh”, một nỗi da diết, triền miên, bồi hồi khôn kể xiết, cả trong cõi thực và trong cả cõi mơ, ý thức và cả trong tiềm thức:
“Lòng em nhớ đến anh
Cả trong mơ còn thức”…
Sóng là qui luật vận động muôn đời của vũ trụ, đại dương. Tưởng tượng “sóng nhớ bờ” rồi liên hệ, đối sánh với em, với nỗi niềm “lòng em nhớ đến anh”… thật bất ngờ thú vị. Ca dao xưa thường nhắc nhiều về nỗi nhớ của trai gai làng quê. Có nhớ day dứt khôn nguôi: “ Nhớ ai nhớ mãi thế này- Nhớ đêm quên ngủ, nhớ ngày quên ăn”. Có nỗi nhớ bồn chồn, ngẩn ngơ: “ Nhớ ai ra ngẩn vào ngơ - Nhớ ai, ai nhớ bây giờ nhớ ai?”. Có nỗi nhớ bồi hồi: “Nhớ ai bổi hổi, bồi hồi - Như ngồi đóng lửa, như ngồi đóng than”. Qua đó, ta mới cảm thấy nỗi lòng của em, nhân vật trữ tình trong bài thơ sóng: “Lòng em nhớ đến anh- cả trong mơ còn thức” là sâu sắc, bất ngờ, mới mẻ.
Năm 1962, thi sĩ Xuân Diệu viết bài thơ tình “biển”, trong đó, hình tượng “sóng” là ẩn dụ về chàng trai đa tình yêu say đắm, nồng nhiệt:
“Anh xin làm sóng biếc
Hôn mãi cát vàng em
Hôn thật khẽ thật êm
Hôn êm đềm mãi mãi”…
Bài thơ “Biển” là một thử thách lớn đối với Xuân Quỳnh. Năm năm sau (1967), bài thơ “sóng” ra đời, ẩn dụ “sóng nói về người phụ nữ, trong mối tình đầu thiết tha, rạo rực và bao hàm nhiều phẩm chất tốt đẹp. đó là sáng tạo, có thể nói là bất ngờ”.
Người thiếu nữ trong bài thơ “sóng” đã “tự hát” về nỗi khao khát được yêu thương, được sống thủy chung trong tình yêu hạnh phúc. Hình tượng sóng gợi lên bao cảm xúc mạnh mẽ, nồng nàn, phong phú và bất ngờ. Sóng thật mãnh liệt. Em thật nồng nàn say mê bởi vì với em “Tình yêu là khát vọng”.'






Phân tích giá trị nhân đạo của truyện ngắn “Vợ nhặt” của KIM LÂN

Vợ nhặt là truyện ngắn xuất sắc của Kim Lân. Truyện kể về chuyện anh cu Tràng nhà nghèo ở xóm ngụ cư đã nhặt được vợ khi nạn đói đang diễn ra kinh khủng, người đói chết đầy đường.
Truyện đã phản ánh nỗi đau khổ, niềm khao khát sống và hạnh phúc của người nghèo, qua đó, nói lên số phận con người trong xã hội cũ, cái đêm trước khi cách mạng bùng nổ. Giá trị lớn nhất của truyện “Vợ nhặt” là giá trị nhân đạo.
Cho đến nay, trong nền văn học Việt Nam chưa có tác phẩm nào viết về trận đói năm Ất Dậu 1945 thật hay, thật xúc động như truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân. Cảm hứng nhân đạo là cảm hứng xuyên suốt từ đầu đến kết thúc tác phẩm.
Truyện “Vợ nhặt” đã phản ánh nỗi đau khổ tột cùng của nhân dân ta, của người nghèo trong nạn đói năm Ất Dậu. Đọan người từ vùng Nam Định, Thái Bình, đội chiếu lũ lượt bồng bế dắt díu nhau lên “xanh xám như những bóng ma” nằm ngổn ngang trên các lều chợ. Quạ đen đậu trên những ngọn cây bay vù lên “như những đám mây đen” trên nền trời. Mùi gây của xác người vẩn lên khắp xóm chợ. Người chết đói như ngã rạ. Sáng nào ba bốn cái thây còng queo bên đường.
Đói và chết đói đâu chỉ riêng ai! Mẹ con Tràng, cái nhà “vắng teo đứng rúm ró” trên mảnh vườn đầy cỏ dại. Cửa nhà là một tấm phên rách. Niêu bát, xống áo vứt bừa bộn cả trên giường, dưới đất. Cơ ngơi ấy người ta đã làm cho nàng dâu mới thất vọng “nén một tiếng thở dài”. Bà cụ Tứ “mặt bủng beo u ám”. Anh cu Tràng “bước mệt mỏi”, cái đầu “trọc nhẵn chúi về đàng trước với bao lo lắng chật vật. Đám trẻ con xóm chợ, trước đây tinh nghịch thế, giờ đây chúng nó“ “ngồi ủ rũ dưới những xó đường không buồn nhúc nhích”. Trước nhà kho trên tỉnh có mấy con gái “ngồi vêu ra”. Đặc biệt nhân vật “thị”, cái đói đã cướp đi tất cả. Không tên họ, tuổi tác. Không gia đình, anh em. Không quê hương bản quán. Hình hài tiều tụy, xơ xác đáng thương. Áo quần “tả tơi như tổ đỉa”. Thị “gầy sọp hẳn đi”, khuôn mặt lưỡi cày “xám xịt”, chỉ còn thấy hai con mắt. Con đường phía trước của thị là vực thẳm, là chết đói. Cái đói đã cướp đi của thị tất cả. Chỉ nghe tràng nói: “muốn ăn thì ăn”, thấy anh ta vỗ vào túi khoe “rích bố cu”, hai con mắt “trũng hoáy” của thị tức thì “sáng lên”. Tình tiết của thị cắm đầu ăn một chặp bốn bát bánh đúc, trông có vẻ thô lỗ, nhưng không đáng chê, trái lại rất đáng thương. Thị đang đói, thị đã nhịn đói nhiều ngày. Thị cần được ăn. Kim Lân đã rất nhân hậu khi nói về thị, khi nói về sự đói khát của người nghèo.
 Cái xóm ngụ cư càng về chiều càng “xao xác, heo hút”, nhà cửa “úp súp, tối om”, với những khuôn mặt “hốc hác u tối”. Bữa cơm đón nàng dâu mới của bà cụ Tứ là một nồi cháo cám. Người con gái giữa trận đói như một thứ vất đi, có thể “nhặt” được. Thị lấy chồng không một quả cau, một lá trầu. Thị về nhà chồng, đứng trước mẹ chồng, nàng dâu mới “khép nép, cúi mặt xuống tay vân vê tà áo đã rách bợt”. Tối tân hôn, “tiếng khóc tỉ tê của gia đình có người mới chết đói vọng đến thê thiết não nùng”. Sáng tinh mơ, tiếng trống thúc thuế dội lên vội vã, từng hồi. Bằng những chi tiết rất thực và rất điển hình, Kim Lân đã thể hiện tình cảm xót thương, lo âu cho số phận của người nghèo khổ trước hoạn nạn, trước nạn đói đang hoành hành. Đáng quí hơn nữa, ông đã đứng về phía nhân dân, về phía người nghèo vạch trần tội ác của Nhật, Pháp bắt trồng đay, bắt đóng thuế, bóc lột dân ta đến xương tủy, gây ra nạn đói năm Ất Dậu làm hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói.
Truyện “Vợ nhặt” đã biểu lộ một tấm lòng trân trọng đối với hạnh phúc con người. Cách kể truyện của Kim Lân rất hóm hỉnh về tình huống anh cu Tràng nhặt vợ và những tình tiết xoay quanh nàng dâu mới. Chỉ một vài câu “tầm phơ tầm phào” Tràng đãi thị bốn bát bánh đúc thế mà hắn nhặt được vợ. Nhặt được vợ nhưng hắn cũng phải liều “Chậc kệ”!. Hắn nghĩ thóc gạo này nuôi thân còn khó, vậy mà còn “đèo bòng”. Trên đường dẫn vợ mới nhặt về nhà xin phép mẹ già, anh cu Tràng vui như người mở cờ trong bụng. Kim Lân tả đôi mắt và nụ cười của anh cu Tràng khi nhặt được vợ. Tràng “phởn phơ khác thường”. Hắn “tủm tỉm cười nụ”. Hai mắt “sáng lên lấp lánh. Có lúc cái mặt hắn cứ vênh vênh tự đắc với mình”.
Hình ảnh Tràng và vợ đi bên nhau trông “hay đáo để”. Tràng khoe hai hào dầu, rồi cười hì hì, bị thị “phát đánh đét” vào lưng với câu mắng yêu:”khỉ gió”. Tràng nghểnh cổ thổi tắt ngọn đèn con, bị thị mắng “chỉ được cái thế là nhanh. Dơ”. Những tình tiết ấy rất hay. Nó như minh chứng một điề rất chân tình, tình người xóa đi đau khổ và chết chóc.
Cảnh mẹ chồng gặp nàng dâu mới thật cảm động. Vượt qua phong tục tập quán ăn hỏi cưới xin, chẳng có dăm ba mâm, bà cụ Tứ thương người đàn bà xa lạ, lại thương con và thương mình, bà nhận nàng dâu mới: “Ừ, thôi thì các con đả phải duyên phải kiêp sống với nhau, u cũng mừng lòng”. Tình thương cùa bà mênh mông, bà nghĩ “người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ này, người ta mới lấy đến con mình. Mà con mình mới có vợ được…”. Bà dịu dàng yêu thương gọi nàng dâu mới là “con”. Lòng đấy thương xót, bà bói với hai con: “năm nay thì đói to đấy. chúng mày lấy nhau lúc này, u thương quá…”. Qua đó, ta càng hiểu sâu hơn về cái lẽ đời. Nhân dân nghèo khổ thường đứng trước tai họa, họ đã dựa vào nhau, san sẻ tình thương, san sẻ vật chất cho nhau để vượt qua mọi thử thách, hướng tới ngày mai với niềm tin và hi vọng: “ai giàu ba họ, ai khó ba đời…”. Người đọc cảm thấy, ngọn đèn “vàng đục” chiếu sáng trong mái lều đêm tân hôn của vợ chồng Tràng là ngọn đèn hi vọng hướng tới hạnh phúc ấm no.
Bữa cháo cám đón nàng dâu mới là một chi tiết mang giá trị nhân đạo tiêu biểu trong truyện “Vợ nhặt”. bà cụ Tứ gọi là “chè khoán… ngon đáo để”. Bà tự hào nói với hai con là “xóm ta khối nhà chả có cám mà ăn đấy”. Trong bữa cháo cám, bà toàn nói chuyện vui sướng về sau này. Cảnh gia đình mẹ con vô cùng “đầm ấm hào hợp” hạnh phúc”. Sau này, vợ chồng con cái Tràng, có thể có nhưng bữa con thịt cá ngon lành hơn, nhưng họ có không bao giờ có thể quên được bữa cháo cám buổi sáng hôm ấy. Vị cháo cám “đắng chát” mà lại ngọt ngào chứa đựng bao tình thương của mẹ. Kim Lân sống gần gũi với người nhà quê, ông hiểu sâu săc tình cảm của họ. Ông đã làm cho thế hệ mai hậu biết cái “đắng chát” trong cuộc đời ông cha, cảm nhận được cái hương đời, cái tình thương của lòng mẹ,…mà không một thứ cao lương mỹ vị nào có thề sánh bằng?.
Kim Lân đã dành những tình cảm tốt đẹp nhất, nồng hậu nhất về sự đổi đời của người dân cày Việt Nam. Mừng cho anh cu Tràng có vợ, bọn trẻ con tinh nghịch reo lên: “chông vợ hài”. Việc Tràng có vợ, dân ngụ cư xóm chợ cảm thấy “có một cái gì lạ lùng và tươi mát thổi vào cuộc sống đói khát, tối tăm của họ”. “Bà cụ Tứ vui sướng vì con trai có vợ, bà như trẻ lại, nhẹ nhõm, tươi tỉnh”, “rạng rỡ hẳn lên”. Vợ Tràng trở thành người đàn bà “hiền hậu đúng mực”. Tràng như từ một giấc mộng bước ra. Anh ngủ dậy cảm thấy “êm ái lửng lơ”. Hạnh phúc quá thật bất ngờ. Việc hắn có vợ sau một ngày một đêm mà “hắn vẫn ngỡ ngàng như không phải”.
Sự đổi mới còn được thể hiện ở cảnh vật. Mẹ và vợ Tràng đã dậy sớm, quét tước thu dọn lại nhà cửa, sân ngõ. Tiếng chổi quét sàn sạt. Hai ang nước được kín nước đầy ắp. Đóng rác mùn tung hoành ngay cả lối đi đã được quét dọn sạch sẽ. Mẹ chồng, nàng dâu mới vá anh tràng, ai cũng muốn góp phần sửa sang tổ ấm của mình cho sạch sẽ. Họ không nghĩ đến cái chết mà hướng về sự sống, về hạnh phúc và sự đổi đời. Tràng cảm thấy hắn đã “nên người”, hắn thấy mình phải có bổn phận lo lắng cho gia vợ con sau này!
Một chi tiết rất hay là vợ Tràng sau khi nghe tiếng thúc thuế đã báo tin ở mạn Thái Nguyên, Bắc Giang người ta không nộp thuế, người ta phá kho thóc của Nhật chia cho người đói. Còn anh cu Tràng thấy trong óc mình “lá cờ đỏ bay phất phới”. Cách mạng sắp đến. nạn đói sẽ bị đẩy lùi. Hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng ở cuối truyện không những tô đậm thêm giá trị nhân đạo mà còn tạo nên âm hưởng lạc quan đầy chấn động, nó như một dự cảm về ngày mai ấm no và hạnh phúc.
Hạnh phúc của Tràng và niềm vui của mẹ già tuy muộn nhưng đáng quý và đáng trân trọng biết bao! Cổ kim đông tây đã có ai có vợ giống như Tràng: “nhặt vợ”. Cái đói do bọn Pháp-Nhật gây ra đã cướp đi tất cả, tính mạng và nhân phẩm của con người. Một sự thật được khẳng định: Niềm khao khát tình yêu và hạnh phúc khao khát sống mạnh hơn cái chết. Cái vị đời ngọt ngào và tình người ấm áp đã tỏa sáng giá trị nhân đạo của truyện “Vợ nhặt” mà ta trân trọng. &



DÀNH TẶNG MẸ

Mỗi người trong chúng ta không ai là không có mẹ. Tình thương của Mẹ dành cho chúng ta mỗi người mỗi khác nhưng cái chung mà tất cả chúng ta đều thừa hưởng được từ Mẹ là những hy sinh vô bờ bến để nuôi con khôn lớn.Bất kể ở đâu, bất kể hoàn cảnh nào thì tình yêu ấy cũng không bao giờ thay đổi.
Sau đây xin mượn bài thơ này kính thành dâng Mẹ!!!!

CÓ MỘT NGÀY BẠN NGHĨ VỀ MẸ

WELCOME TO BLOGPOST TO ME

Chào mừng các bạn đến với trang blog của tôi.
Tôi tên: Nguyễn Minh Thái, hiện là sinh viên năm 4, ngành sư phạm ngữ văn.
Quan điểm của tôi: đã không làm thì thôi, nếu đã làm thì làm cho tới.
Tôi không thuộc loại người dễ tính nhưng chẳng khó khăn với bất kí ai. Ở tôi, miễn mình cảm thấy OK thì cứ làm.
hân hạnh đón tiếp những đóng góp của các bạn!!!!